SGTT.VN - Tìm ra con đường chuyển nghĩa của một từ là tìm được quá trình phát triển nhận thức trong tư duy người Việt về một phương diện nào đó. Như với từ “lại”, một từ có quá trình chuyển nghĩa rất độc đáo.
Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học cấp cho từ “lại” 14 nghĩa và hàng loạt tổ hợp từ “lại” mang tính thành ngữ. Thực ra, từ “lại” chỉ có một nghĩa gốc, liên quan đến từ “đi”. Đó là sự đối lập giữa đi và lại: đi là chuyển động rời khỏi gốc, lại trỏ chuyển động theo hướng về điểm gốc. Sự đối lập này hiện ra trong cách nói “mang đi và bỏ lại”, “lấy đi và để lại”, “Người ra đi đầu không ngoảnh lại…” (thơ Nguyễn Đình Thi).
Trong nói năng, người nói thường lấy mình làm gốc. Nghe gọi “lại đây với mẹ!”, đứa con chạy lại phía người mẹ, cái gốc nó cần đến.
Là lặp, là phù hợp
Có ra đi mới có trở lại. Thế là có một nghĩa đầu tiên: “lại” trỏ sự lặp lại một vị trí. Từ đây mở rộng thành lặp lại hành động, sự kiện, thuộc tính vì người Việt lấy quan hệ không gian để nhận thức những quan hệ khác. Chúng ta nói: “lại tai nạn”, “lại tăng giá”, “làm lại”, “thi lại”…
Trong một mức độ nào đó, sự lặp lại tạo ra hành động giống nhau, những sự kiện giống nhau, những thuộc tính giống nhau. Phạm trù giống nhau nằm trong phạm trù khái quát hơn: sự phù hợp. Thế là “lại” có thêm nghĩa mới: chỉ sự phù hợp. “Hai ông ấy đã làm nghề tri huyện lại kiêm cả nghề đào mỏ, chẳng qua cũng muốn vinh thân như mọi người” (Ngô Tất Tố). Nghề “đào mỏ” (lấy vợ con nhà giàu) cũng có mục đích vinh thân như nghề tri huyện: từ “lại” bộc lộ ý hai nghề ấy phù hợp nhau về mục đích.
Lượt xem: 61
Đọc thêm...