Bạn đang ở: Trang chủ Điểm báo Điểm báo Tạ Thị Ngọc Thảo: "No mà sạch, Lành mà thơm"

Tạ Thị Ngọc Thảo: "No mà sạch, Lành mà thơm"

Mỗi người đều sống và hướng đến hạnh phúc của chính mình. Chị Tạ Thị Ngọc Thảo được biết đến như một “nữ tướng” của thị trường bất động sản. Và cũng như bao nhiêu doanh nhân chân chính khác, Chị mong cả dân tộc phải biết khát khao làm giàu, nhưng làm giàu mà say thì sẽ gây nhiều hệ lụy cho mình, cho người, cho thế hệ kế thừa, cho doanh nghiệp và cho đất nước.

image

Bằng những trải nghiệm tâm linh và niềm tin nhân – quả sâu sắc, Chị đã dành cho VHPGVN một cuộc trò chuyện mà độc giả có thể nhận thấy ở đấy ý nghĩa “cho tức là nhận”, “phiền não tức Bồ đề”… Xin được giới thiệu đến quý độc giả.

P.V: Thưa chị, có lần chị từng nói chị mong cả dân tộc khao khát làm giàu. Vậy lý do nào Chị lại cho ra mắt cuốn “Đừng say điệu nhảy”, Chị có thể nói rõ hơn về cuốn sách này được không?
Tạ Thị Ngọc Thảo (TTNT): Trong bài “Nền tảng kinh tế theo cách nhìn của Phật giáo” (học giả Thích Tuệ Sĩ) có trích dẫn đoạn Đức Phật dẫn dụ câu chuyện liên quan đến kinh tế vĩ mô: Một vị vua muốn tổ chức lễ đại tế để cầu phúc lợi cho vương quốc mình. Vua hỏi ý kiến của vị tu sĩ cao nhất. Vị này đã giảng dạy cho vua phải làm gì trước tiên. Vương quốc ấy bấy giờ đang khốn khổ vì nghèo đói và bất ổn, trộm cướp và giặc giã hoành hành.
Vị tu sĩ ấy nói rằng: “Nếu làm cho dân chúng có công ăn việc làm thì sự trộm cắp và nổi loạn sẽ giảm thiểu”. Bài học này ở thế kỷ 21 vẫn nguyên giá trị, hiện là “kinh nhật tụng” của cấp lãnh đạo quốc gia, và là giáo trình của các trường danh tiếng hàng đầu thế giới soạn riêng cho các vị quản lý nhà nước.
Văn hóa dân tộc Việt Nam được xây dựng trên nền tảng văn hóa Phật giáo. Ông bà mình cũng dạy một câu tương tự: “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”. Thực tế cũng chứng minh, dân giàu thì nước mạnh, dân nghèo thì bị áp bức; vì vậy tôi mong cả dân tộc mình khao khát làm giàu.
Nhưng làm giàu để kinh tế tăng trưởng phải trong sự tỉnh thức, không nên say và không được say. Thế nào là dân tộc Việt Nam tỉnh thức trong sự tăng trưởng? Tổ chức Liên Hợp Quốc (UNDP) đã cảnh báo chính phủ các nước cần tránh “năm kiểu tăng trưởng kinh tế không bền vững”: (i) Tăng trưởng không việc làm, (ii) Tăng trưởng không lương tâm (iii), Tăng trưởng không tiếng nói, (iv) Tăng trưởng không gốc rễ, (v) Tăng trưởng không tương lai.
Nếu nhà nước say với tốc độ tăng trưởng thì có thể sẽ xem nhẹ môi trường sống và sự hài lòng của người dân. Nếu doanh nghiệp say với lợi nhuận thì người chủ có thể giàu nhưng đất nước sẽ vẫn nghèo. Vì vậy tôi viết “Đừng say điệu nhảy” là có ngụ ý: kinh tế tăng trưởng, doanh nhân làm giàu mà say là sẽ gây nhiều hệ lụy cho mình, cho người, cho thế hệ kế thừa, cho doanh nghiệp và cho đất nước.
P.V: Chị có nói, sống phải biết hướng đến mục tiêu “no mà sạch, lành mà thơm”, nhưng trong xã hội mà người ta đua nhau làm giàu bằng mọi cách thì rất khó thực hiện, vậy theo Chị muốn thực hiện được “sạch và thơm” cần phải có những điều kiện gì?
TTNT: Tôi nghĩ rằng muốn “no mà sạch, lành mà thơm” trước tiên dân tộc đó phải có một triết lý sống, sống để làm gì, sống như thế nào và làm sao để sống xứng đáng. Hơn hai ngàn năm qua có một thời dân tộc Việt Nam đã dựa vào triết lý Phật giáo để xây dựng chuẩn mực sống cho ra sống.
Lịch sử đã chứng minh đó là thời Việt Nam của chúng ta thăng hoa về đạo đức xã hội, hùng cường về kinh tế - quân sự.
Hiện nay một số nền kinh tế đang chuyển đổi đã “no mà không sạch, lành mà không thơm”; nói cách khác là đang khủng hoảng triết lý sống. Có lẽ vì vậy mà Tổ chức Liên Hợp Quốc (UNDP) đã chọn ngày Rằm tháng Tư âm lịch hằng năm là ngày “Tôn giáo thế giới”. Tôi nghĩ, phải chăng UNDP chọn triết lý Phật giáo làm nền tảng để xây dựng triết lý sống xứng đáng cho toàn nhân loại?
Về mặt lý luận là vậy, còn trong thực tế thì hiện đã có một số nước xây dựng khá thành công chuẩn mực “no mà sạch, lành mà thơm”, tôi muốn nói đến các nước có thể chế xã hội dân chủ. Sau khi hệ thống Đông Âu sụp đổ, các nước tư bản cũng bộc lộ sự yếu kém trong quản lý nhà nước thể hiện qua những đợt suy thoái kinh tế toàn cầu, thì mô hình xã hội dân chủ trở thành hiện tượng tích cực được nhiều nước lớn tìm đến nghiên cứu, tham khảo và học tập kinh nghiệm, trong đó có Việt Nam của chúng ta.
Đó là dấu hiệu cho thấy, “no mà không sạch, lành mà không thơm” đã đến hồi không còn đất sống.
P.V: Nhân duyên nào Chị đã đến với đạo Phật, và Chị có thể cho biết đôi nét về những người Thầy đã đưa chị đến với tinh thần Phật giáo?
TTNT: Nói về nhân duyên thì phải nói đến nhiều đời, nhiều kiếp. Tôi biết một cách chắc chắn, không riêng gì dòng tộc họ Tạ của tôi, nhiều dòng tộc khác của xã hội Việt Nam cũng vậy: bà sở, bà sơ, bà sờ dắt bà cố dắt bà nội (ngoại) đi chùa, bà nội (ngoại) dắt cha (mẹ) đi chùa, cha dắt con trai (gái) đi chùa, con rồi sẽ dắt cháu đi chùa; giống như lá rụng về cội, nước chảy về nguồn vậy.
Tôi không chỉ đến với đạo Phật vì truyền thống dân tộc Việt Nam, tôi đến với đạo Phật còn vì một triết lý siêu việt được thể hiện qua kinh sách, qua lối sống của những vị Tăng - Ni mà tôi có thiện duyên tiếp xúc.
Với tôi, đạo Phật không phải là đạo “cầu gì được nấy”, tôi không bao giờ tìm đến cửa chùa để cầu mua may, bán đắt, cầu tình, cầu lộc, cầu duyên, cầu địa vị xã hội…
Pháp của Phật đã chỉ đường cho tôi tự giải thoát tôi ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của tham - sân - si; giải thoát tới đâu tôi an lành tới nấy.
Tăng - Ni tu chân chính là một gương sống cho tôi noi theo. Nhiều khi tôi thấy mình vụn vặt trước sự tự tại của quý thầy, quý cô. Trong khi bản thân tôi còn tính toán thiệt - hơn thì những vị chân tu chỉ cần nghe một tiếng “khổ” là khoác nải lên vai, đi! Trân trọng hơn, với những vị này, tiếng kêu “khổ” chính là chân lý, vì vậy họ bất chấp rào cản trên đường tìm đến nơi phát ra tiếng kêu đó.
P.V: Chị có nghĩ rằng, chính danh xưng “Phật tử” đã tác động và chuyển hướng “mục đích làm giàu” của chị?
TTNT: Rasul Gamzatov, anh hùng lao động Liên Xô, người đạt danh hiệu “Nhà thơ lớn của thế kỷ XX", cũng từng dẫn chứng trong thơ của mình một thành ngữ nổi tiếng mang hàm ý của thuyết nhân quả: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng ngắn, thì tương lai sẽ nã vào anh bằng đại bác”.
Từ sự trải nghiệm nhiều năm trên thương trường, tôi nhận ra: doanh nhân nói chung, không riêng gì doanh nhân Phật tử, muốn giàu có một cách bền vững thì phải thấm nhuần thuyết nhân - quả, có thể nói ví von là “gieo gì, gặt nấy”. Trong thời toàn cầu hóa, nhất là toàn cầu về công nghệ thông tin, nhân - quả sẽ đồng thời, không xa như quá khứ và không đợi đến tương lai mới trả giá.
Khi ký một hợp đồng với doanh nghiệp do doanh nhân Phật tử làm chủ, khi thâu nhận một cộng sự theo đạo Phật vào công ty, tôi sẽ yên tâm hơn rất nhiều; may mắn thay tôi ít khi phải trả giá cho sự “yên tâm” đó.

 

P.V: Trong quan niệm của Phật giáo, địa vị, của cải, danh tiếng cũng chỉ là vô thường. Nhưng có lúc nào trong thực tế cuộc sống, Chị nghĩ “doanh nhân” Tạ Thị Ngọc Thảo mâu thuẫn với “Phật tử” Tạ Thị Ngọc Thảo?
TTNT: Như tôi biết con Phật có hai chúng, chúng xuất gia và chúng tại gia. Với chúng xuất gia thì ngay cả sự “không” cũng vô thường nói chi đến địa vị, của cải, tiền tài, danh vọng.

 

Nhưng với chúng tại gia thì lại khác. Có một câu của Thiền sư Đạo Hạnh mà tôi, một doanh nhân Phật tử, tâm đắc và lấy đó làm triết lý kinh doanh: “Có thì có tự mảy may/ Không thì cả thế gian này cũng không”.
Ông bà mình cũng dạy doanh nhân “Ăn cho, buôn so”. “Ăn” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: làm từ thiện, cúng dường, xây chùa, xây các công trình phúc lợi xã hội, tặng, biếu, giúp đỡ người nghèo khó…; và đã gọi là “cho” thì tiền bạc nhẹ như mây. Nhưng “buôn so” thì lại khác. “Buôn” được hiểu là buôn bán, kinh doanh; “so” trong câu này là so đo, tính toán.
Doanh nhân Phật tử phải tỉnh thức giữa “ăn” và “buôn”, rạch ròi giữa “cho” và “so”; để làm gì? Để làm chủ đồng tiền và tránh rủi ro cho doanh nghiệp của mình.

 

P.V: Nghe nói Chị từng có ý định “xuất gia” sau khi đã “rửa tay chậu vàng” trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, vậy vì sao Chị không thể thực hiện được tâm nguyện ấy, có nguyên nhân tác động nào khác ngoài bản thân Chị không?

TTNT: Tôi không nghĩ là mình có ý định xuất gia mà là về chùa. Chẳng hiểu sao tôi xác quyết rằng mình đã từng xuất chùa mà đi vào thương trường, bây giờ tạm xong việc kinh doanh thì về lại nơi mình đã từ đó mà đi. Nhưng rồi tôi nghĩ lại, trong thương trường mà tâm tịnh thì thương trường cũng là chùa. Phật ở khắp mọi nơi, doanh nhân cứ hãy học theo kinh Phật, sống như con Phật, kinh doanh theo triết lý đạo Phật, thì thương trường cũng là cõi Phật.

 

Đạo Phật cao siêu nhưng đạo Phật cũng bình dị. Nếu tôi là một công dân tốt, một Phật tử chơn chất, một người chủ có tâm, một đối tác uy tín, một người má trách nhiệm... thì tôi là con Phật. Hơn nữa, Đức Phật không khuyến khích hay làm cho ai cũng xuất gia. Kinh Duy Ma còn nói rõ: “Xuất gia làm việc Bồ Tát không khó, tại gia làm việc Bồ Tát mới khó, vì tại gia bị bao nhiêu điều phiền nhiễu”.
P.V: Thưa Chị, lý do gì Chị chọn cách “ăn chay trường”, ăn chay như vậy có khó không, có ảnh hưởng gì tới sức khoẻ không?
TTNT: Khi bàn về chuyện ăn thì tôi nói thật, nếu tôi ăn chỉ vì tôi thì ước gì có một loại thuốc uống vào đủ chất để không phải mất thời gian vào chuyện ăn. Khi còn ăn mặn, lúc ăn tôi thường nhủ “phải ăn để có sức khỏe làm việc”, và như vậy tôi luôn ăn trong sự tỉnh thức, không để miếng ăn dẫn dắt mình.
Lúc chưa ăn chay tôi cũng không thích thức ăn nặng bụng (thịt động vật), nặng mùi, nhiều béo, vì vậy khi chuyển qua trường chay tôi vui trong chuyện ăn vì hợp khẩu vị hơn.
Trước khi vào bữa ăn Tăng - Ni có nguyện năm điều, tôi cũng nguyện, nhưng nguyện theo “chuẩn” của cá nhân mình: (i) Cám ơn xã hội, cộng đồng đã cho tôi bữa ăn này, (ii) Tôi xin ăn vào để có sức khỏe làm việc, (iii) Tôi luôn làm chủ miếng ăn, không để sự ăn dẫn dắt, (iv) Tôi hứa sống xứng đáng với những gì xã hội, cộng đồng đã đem đến cho tôi.
Đúng ra, tôi phải nguyện “ăn hết phần ăn của mình”, nhưng vì tôi biết mình không làm được cho nên hổng dám nguyện.
Khi nguyện tôi cũng giữ ý, ở chốn đông người, tôi nguyện trong đầu; ở chốn thanh vắng tôi tịnh tâm, chấp tay, nguyện.
Tôi nghĩ, trước bữa ăn, nếu cán bộ - công nhân viên chức nhà nước, doanh nhân (nhiều thành phần) cùng nguyện để cám ơn cộng đồng đã nuôi dưỡng mình và hứa sống xứng đáng với những gì xã hội đã ưu ái với mình thì, có lẽ, chuyện gian lận thương mại, sát phạt lẫn nhau, rút ruột công trình, cửa quyền, tham nhũng…, sẽ giảm thiểu đáng kể.
P.V: Độc giả rất muốn biết Chị bắt đầu một ngày và kết thúc một ngày như thế nào, và một việc làm không thể thiếu trong ngày của Chị?
TTNT: Những người quen, biết tôi tuổi con gà, cho nên hay đùa “ngủ như gà”, nghĩa là gà lên chuồng lúc nào tôi lên giường lúc đó. Tôi cũng dậy sớm cũng như gà, lúc sương buổi sớm còn lãng đãng ở những bụi cây trong vườn nhà. Không gì thú vị bằng vừa tập khí công (hoặc yoga) vừa thưởng thức hương hoa lúc tinh sương.
Sau đó tôi vào mạng cập nhật thông tin cần biết trong ngày: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; nếu có viết báo, soạn bài giảng, soạn bài tham luận…, thì đây cũng là thời gian thích hợp nhất.

 

Tôi thích nhất giờ uống trà buổi sáng: một tách trà chanh với mật ong, một ly sữa đậu nành, vài cái bánh nướng nhỏ, dăm hạt đậu khô, thêm chút nhạc cổ điển, là
đủ một buổi ăn sáng sang trọng.

 

Thời gian sau buổi ăn sáng cho đến 17h chiều không là của riêng tôi vì phải tuân thủ nghiêm ngặt lịch làm việc do thư ký sắp xếp; dắt đâu, đi đó, được về đến nhà là mệt khờ. Nói đùa, nhiều hôm ngại gặp mặt thư ký, trong đầu nghĩ thầm, giá có phép tiên “hô” một cái thư ký “biến” mất, sướng!
Tôi thường bơi trước khi ăn cơm chiều, sau ăn cơm là đi dạo quanh vườn kết hợp với nghe kinh, tĩnh tâm, rồi “lên chuồng”.
Công việc không thể thiếu trong ngày, hễ thiếu là bứt rứt, đó là nghe kinh và đọc sách.
P.V: Chị có nói “Biết lấy đồng tiền vào, thì tìm cách cho đồng tiền ra, gom vào cực sao thì trả lại cực y như vậy. Mình gom vào, nó làm chủ mình. Mình trả ra, mình làm chủ nó”. Chị có thể chia sẻ điều hạnh phúc nhất của Chị cũng như một công việc có ý nghĩa mà Chị đang “trả ra” được không ạ?
TTNT: Trong kinh Duy Ma có một câu về làm từ thiện, bố thí, cúng dường: “Bố thí là đạo tràng, vì không hy vọng đáp trả”. Những việc “trả ra” của tôi hiện nay giúp tôi thanh tịnh, an lạc, vì vậy tôi nghĩ mình đang “nhận”, không phải “cho”.
P.V: Bước vào nhà Chị, ngoài cửa có treo câu đối bằng chữ Hán rất đẹp: “Niên niên nan quá niên niên quá. Sự sự bất thông sự sự thông”. Chị có thể cho biết vì sao Chị chọn đôi câu đối này và nó có ý nghĩa gì trong đời sống của Chị?
TTNT: Câu đối đó do một vị giáo sư ở Trung Quốc viết tặng tôi. Nội dung của câu đối vừa chở tính thiền “phiền não tức bồ đề” vừa mang tính triết lý “sự thống nhất của hai mặt đối lập”.
Câu đối đã gói gọn sự nghiệp của bản thân tôi. Bây giờ tôi đang ở đoạn sau của câu đối trên và tôi luôn luôn cám ơn đoạn đầu của câu đối đó: có “gian nan” mới biết thế nào là “an lành”; có “bất thông” mới cảm nhận hết giá trị của “sự thông”.
Cuộc đời đã cho tôi quá nhiều. Mỗi ngày tôi luôn nguyện “sống xứng đáng với những gì mình đã nhận”.
P.V: Xin chân thành cảm ơn và chúc Chị luôn an lạc!
Theo: Văn hóa Phật giáo Việt Nam - Ấn phẩm mùa Hạ
(Nguồn từ http://phattuvietnam.net)
 

Trại Cờ Lau 711

Trại Bách Việt 2010

Jamboree SINGAPORE 2010

JAMBOREE APR 26

Kỷ yếu JAMBOREE APR 26

Trực tuyến

Hiện có 389 khách Trực tuyến

Giúp Ích các năm trước

Việt Nam tự điển

vietnamtudien